Chương trình IB (International Baccalaureate )

Chương trình IB có 3 bậc, dành cho học sinh từ 3-19 tuổi. Bậc cao nhất của IB (Diploma Programme) dành cho học sinh độ tuổi từ 16 đến 19. Chương trình này được thiết lập như cấp 3/dự bị đại học kéo dài 2 năm cho khoảng 900.000 học sinh tại hơn 3000 trường ở hơn 140 quốc gia. Với một kết cấu các nhóm môn học và giáo trình khá toàn diện, IB được nhiều trường đại học trên thế giới công nhận và đánh giá cao, đặc biệt ở Mỹ và Châu Âu.

 

1. Giáo trình IB

 

1.1. 6 nhóm môn học chính

Giáo trình IB gồm có 6 nhóm môn học, và có thể được dạy bằng 3 thứ tiếng: Anh, Pháp, Tây Ban Nha. Học sinh phải chọn 3 môn bậc nâng cao (Higher Level – HL) và 3 môn bậc cơ bản (Standard Level – SL).

1.1.1. Ngôn ngữ A1 (thường là tiếng mẹ đẻ): chương trình học là văn học trong nước và các tác phẩm văn học thế giới.

1.1.2. Ngôn ngữ thứ hai (thường là ngoại ngữ): gồm có ba cấp bậc:

  • ab initio: vỡ lòng, cho những người chưa có kiến thức gì về ngôn ngữ đó.
  • Ngôn ngữ B: dành cho những người đã từng học qua. Học sinh có thể chọn học cấp bậc cơ bản hoặc nâng cao.
  • Ngôn ngữ A2: dành cho học sinh có nhiều năm kinh nghiệm với ngôn ngữ đã chọn. Ngoài các kỹ năng thường thấy ở các lớp ab initio và lớp B, học sinh còn phải học thêm văn học.

1.1.3. Cá nhân và xã hội: có 8 môn học khác nhau và được dạy ở cả bậc cơ bản và nâng cao: Quản trị kinh doanh, kinh tế, địa lý, lịch sử, triết học, tâm lý học, nhân loại học và công nghệ thông tin trong xã hội.

1.1.4. Khoa học tự nhiên: có 4 môn học, được dạy ở cả bậc cơ bản và nâng cao, gồm có: sinh học, hóa học, công nghệ thiết kế, vật lý và môi trường & xã hội. Trong nhóm 4 có môn môi trường & xã hội là được xếp vào cả nhóm 3 và 4.

1.1.5. Toán học và vi tính: có 4 cấp bậc khác nhau, trong đó có 2 lớp cơ bản, 1 lớp nâng cao, và một lớp chuyên sâu.

1.1.6. Nghệ thuật: gồm có làm phim, âm nhạc, kịch, và mỹ thuật. 4 môn này đều được dạy ở mức cơ bản và nâng cao.

Mỗi học sinh chọn 6 môn học: 5 môn đầu tiên mỗi môn trong 1 nhóm từ 1 đến 5, môn thứ 6 là môn tự chọn, có thể học nhóm thứ 6 hoặc bất kì môn nào khác trong 5 nhóm trên.

 

1.2. Các yêu cầu khác

Để có thể nhận bằng IB, học sinh cần hoàn thành bài luận nghiên cứu tự chọn dài khoảng 4000 từ (Extended Essay – EE) và một khóa học “Lý thuyết của Nhận thức” (Theory of Knowledge – TOK) kéo dài một năm. Những yêu cầu này để chuẩn bị cho định hướng tương lai và môi trường học tập ở đại học sau này.

Thêm vào đó, học sinh còn phải hoàn thành tối thiểu 150 giờ CAS (Creativity – sự sáng tạo, Action – hành động, Service – hoạt động xã hội), mỗi phần là tối thiểu 50 giờ trong vòng 2 năm. Mỗi hoạt động sẽ được ghi chép lại bằng nhật ký, hình ảnh hay video và sẽ có nhận xét của giáo viên, hay người phụ trách đi kèm. Cuối năm lớp 11, học sinh còn đăng ký một dự án CAS (CAS Project) để thực hiện trong một thời gian dài. Học sinh sẽ không nhận được bằng tốt nghiệp nếu không đạt được tiêu chuẩn về CAS.

 

1.3. Cách tính điểm

Điểm cao nhất cho mỗi môn học của IB là 7. Extended Essay và Theory of Knowledge sẽ có điểm thưởng là 3 điểm. Điểm đạt để lấy bằng tú tài là 24/36, với tổng điểm 3 môn nâng cao trên 12 điểm. Vì điểm cuối cùng của IB chỉ có sau khi hoàn tất 2 năm học, trong quá trình học sinh nộp hồ sơ sang các trường đại học Mĩ và tùy từng đại học ở các nước khác, các thầy cô tại trường dạy IB sẽ được yêu cầu đưa ra một điểm dự đoán (Predicted Grade – PG) cho học sinh ở môn học của mình.

 

2. Ưu điểm khi học chương trình IB

- Các trường dạy IB tự do trong việc chọn môn học cho từng nhóm, đặc biệt là những nhóm có lựa chọn khá đa dạng như Ngôn ngữ thứ hai hay các môn Xã hội, v.v.

- Giáo trình đa dạng, có nhiều hình thức trao đổi và nâng cao kiến thức cho học sinh: thảo luận trong lớp, báo thí nghiệm khoa học, bài luyện tập rèn luyện sự sáng tạo, thi vấn đáp, v.v, giúp hoàn thiện kĩ năng học và nghiên cứu về nhiều mặt.

- Bằng IB rất có giá trị khi nộp hồ sơ vào đại học trên khắp thế giới.